Đang thực hiện
TẠO TƯỢNG PHẬT ĐƯỢC BAO NHIÊU CÔNG ĐỨC ?

18:34 15/02/2020


Những điều này do chính Đức Phật giảng giải cho Di Lặc Bồ Tát, phân tích về lợi ích, công đức của những người tạo tượng Phật, dù lớn như núi hay chỉ nhỏ như ngón tay cái, xấu hay đẹp đều được công đức siêu việt.



Nếu không đọc KINH ĐẠI THỪA CÔNG ĐỨC TẠO TƯỢNG PHẬT chúng ta không thể hình dung hết được, xin trích đoạn vài dòng:


“ … Lúc ấy, Đế Thích – Thiên chủ cõi trời Đao Lợi bạch Đức Phật rằng:

– Kính bạch Đức Thế Tôn! Nay tại thế gian có người nào, từng ở kiếp xưa tạo tượng Phật chăng?

Đức Phật bảo Ngài Thiên chủ Đế Thích:

– Những ai đã từng tạo tượng Đức Phật thủa quá khứ trước đây, đều đã được giải thoát cả rồi. Tại thiên chúng đây còn không có ai sót lại, huống gì nơi khác. Chỉ trừ một người con của ông Tỳ Sa Môn ở về phương Bắc, tên là Na Lý Sa Bà, thuở xưa có lần tạo tượng Bồ Tát, do phước này nên sau được làm vua, tên là Tần Bà Sa La. Lại do gặp ta, nay được sinh Thiên có thế lực lớn, lìa hẳn ác đạo.

Tỳ kheo Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Da Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, cả ba vị này kiếp xưa từng sửa chùa thờ tượng Phật, do nhân duyên đó vĩnh viễn giải thoát.

Ông Kiều Phạm Ba Đề kiếp xưa là thân trâu, nhân tìm cỏ nước đi quanh chùa, ăn cỏ trong những bụi tre, do thấy tôn dung của tượng Phật phát tâm vui mừng, nhờ phước đó mà nay được giải thoát.

Ông Thi Tỳ La từng cầm lọng báu cúng dường tượng Phật. Ông Nậu Lâu Đà thắp một ngọn đèn cũng để cúng dường tượng Phật. Ông Du Bệ Ma từng quét nền dưới tượng Phật. Ông A Bà Ma Na ở trước tượng Phật thắp đèn giúp sáng, Tỳ kheo Nan Đà mến trọng tôn nghi, nên dùng nước thơm gội rửa tượng Phật v.v… có vô lượng vị A La Hán như vậy, tất cả đều từng ở chỗ tượng Phật dâng lễ vật mọn cúng dường.

Cho đến thấp nhất như ông Na Già Ba La, ở trước tòa tượng Phật, dùng chút ít son vàng vẽ thân một tượng vì để cúng dường… Do phước này nên đều lìa hẳn khổ và được giải thoát.
Đức Phật bảo tiếp:

– Này Thiên Đế Thích! Nếu có người nào, có thể ở thời giáo pháp của ta chưa diệt tận, mà tạo tượng Phật, sẽ ở nơi hội đầu tiên của Phật Di Lặc, đều được giải thoát.

Nếu chúng sinh nào, chẳng phải vì bản thân của mình, cầu xuất ly vì muốn chứng quả Vô Thượng Bồ Đề mà tạo tượng Phật, nên biết đó là cái nhân chính của ba mươi hai tướng, có thể làm cho người ấy nhanh chóng thành Phật.”

KINH ĐẠI THỪA CÔNG ĐỨC TẠO TƯỢNG PHẬT đặc biệt rất hay, không khó hiểu, lại có nhiều đoạn Đức phật phân tích nhân quả của người tạo tượng - thêu , vẽ hình Phật , nhân quả vì sao sinh làm người phụ nữ, sinh làm người người đồng tính luyến ái, kể cả người song tính luyến ái… và cách hóa giải. Hi vọng mọi người dành chút thời gian đọc hết kinh, tăng thêm hiểu hiểu sâu xa về nhân quả, tích chứa công đức vô lượng (kinh hơi dài, các bạn nên chia sẻ về tường để đọc dần)

________________
KINH ĐẠI THỪA CÔNG ĐỨC TẠO TƯỢNG PHẬT

Tôi nghe như vầy: Một thời Đức Phật ở tại cõi trời Đao Lợi, dưới cây Ba Lợi Chất Đa La (Chú thích: chúa tể những loài cây trên trời), cùng với vô lượng đại Tỳ kheo chúng, vô lượng vị đại Bồ Tát câu hội, Ngài Đại Bồ Tát Di Lặc là bậc đứng đầu.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn ở trên trời ấy an cư ba tháng thuyết pháp cho mẹ, nhiều sự lợi ích đối với chư Thiên, vô lượng chư Thiên lìa khổ, giải thoát. Vô lượng chư Thiên thấm nhuần giáo pháp, được quả phước lớn. Khi đó, trong số chư Thiên, có một Thiên tử thọ số sắp hết, năm tướng suy hiện (Chú thích : Hoa trên đầu héo – Y phục nhơ nhớp – Đổ mồ hôi nách – Thân hình hôi hám – Không ưa ngồi trên tòa). Nhờ sức nghe pháp, sau khi mệnh chung, sinh lại cõi trời này, lìa hẳn nẻo ác.

Lúc ấy, trong Diêm Phù Đề không có Đức Phật. Ví như đêm tối, đầy những vì sao nhưng không mặt trăng, như nước không vua, như nhà không chủ, thì những cuộc vui, những trò giải trí đình chỉ tất cả.

Khi đó chúng sinh dường như côi cút không chỗ nương tựa. Đối với Đức Phật, tấm lòng mọi người mang nỗi luyến mộ sinh rất buồn rầu như mất cha mẹ, như tên bắn vào tim, cùng nhau đến chỗ Đức Phật từng ở, chỉ thấy vườn rừng, sân hiên vắng ngắt, đâu cũng trống trải không có Đức Phật, mọi người càng thêm buồn nhớ không nguôi.

Bấy giờ, vua Ưu Đà Diên đang ở trong cung thường mang nỗi buồn, luôn luôn xúc cảm, khát ngưỡng Đức Phật, vua chẳng màng đến chánh cung, thế nữ và các cuộc vui, vua nghĩ như vầy: “Nay ta lo buồn không lâu sẽ chết! Làm sao cho ta lúc chưa bỏ mạng, được thấy Đức Phật?”

Rồi vua lại nghĩ: “Ví như người nào lòng thương yêu ai nhưng không được gặp, nếu thấy chỗ nơi người ấy đã ở, hoặc thấy kẻ nào giống hệt người ấy, may ra trừ bớt những nỗi u buồn.”
Vua nghĩ ngợi thêm: “Nay ta nếu đến nơi Phật đã ở trước đây mà không thấy Phật, chắc ta thương khóc, cảm xúc đến độ có thể chết mất! Ta xem trong đời không có người nào mà về sắc tướng, phước đức trí tuệ có thể ngang bằng với Đức Như Lai, làm sao cho ta gặp người như thế để ta bớt sầu?”

Khởi niệm ấy rồi, vua lại ngẫm nghĩ: “Nay ta hãy nên tạo hình – tượng Phật, lễ lạy cúng dường.” Nhưng vua lại xét: “Nếu ta tạo tượng mà không giống Phật, e khiến cho ta mắc vô lượng tội.”

Rồi vua nghĩ thêm: “Giả sử những người thông minh trong đời đều cùng đề cao công đức của Phật vẫn chẳng thể hết. Nếu một người nào tùy phần khen ngợi, người ấy vẫn được phước đức vô lượng. Nay ta cũng vậy, nên tùy phần mình mà tạo ra tượng.”

Nhà vua lập tức truyền lệnh cho những người thợ khéo trong nước đều phải nhóm lại. Mọi người nhóm rồi, vua bảo họ rằng:

– Người nào có thể vì ta mà tạo hình – tượng Đức Phật, ta sẽ đem những châu báu trả công và thưởng người ấy.

Những tay thợ giỏi cùng tâu vua rằng:

– Nay vua ra lệnh, thật là việc khó. Tướng tốt nhiệm mầu của Đức Như Lai, trên thế gian này không ai sánh nổi. Nay đây chúng tôi làm sao có thể tạo ra hình- tượng Phật? Giả sử Thiên thần Tỳ Thủ Yết Ma mà có tạo tượng, cũng chẳng thể nào giống Đức Như Lai. Nếu như chúng tôi nhận lời đức vua tạo hình – tượng Phật, may ra có thể mô phỏng ít phần về tướng xoắn tóc và bạch hào, ngoài ra những tướng tốt đẹp sáng rỡ, đầy vẻ oai đức, người nào có thể tạo nổi? Đức Phật rồi đây, sẽ từ cõi trời trở xuống nhân gian, hình – tượng tạo ra nếu có sai lầm, tiếng tăm chúng tôi sẽ bị lui mất, chúng tôi trộm nghĩ không thể dám làm.

Vua Ưu Đà Diên khi đó nói lại:

– Tâm ta đã quyết, chớ có chối từ! Như kẻ sợ khát muốn uống nước sông, không lẽ vì uống chẳng thể cạn nước sông, rồi không uống nước hay sao?

Những người thợ khéo nghe vua nói vậy, đều quỳ trước mặt, bạch lên vua rằng:

– Xin y theo lệnh, nhưng thỉnh đức vua cho phép chúng tôi nghĩ ngợi đêm nay, sáng mai đến làm.

Họ lại bạch thêm:

– Nay vua tạo tượng, nên dùng thuần gỗ Chiên đàn (Chú thích: loại gỗ quý, có mùi thơm nức, không có mùi thơm nào sánh kịp, mọc ở xứ Ấn Độ), sớ thịt nó mịn, thể chất rất bền, còn hình – tượng Phật là ngồi hay đứng, cao thấp thế nào?

Vua đem lời ấy hỏi lại các quan. Có một vị quan thông thạo hiểu biết, ra bạch vua rằng:

– Vua nên tạo tượng Đức Như Lai ngồi. Tại sao vậy? Bởi vì, tất cả chư Phật chứng đại Bồ Đề, chuyển bánh xe Pháp, hiện thần thông lớn, hàng phục ngoại đạo, làm Phật sự lớn… Tất cả đều là tư thế ngồi. Do đó nên làm hình – tượng Đức Phật ngồi kiết già trên tòa sư tử.

Ngay trong khi đó, vị trời Tỳ Thủ Yết Ma (Chú thích: là bề tôi của trời Đế Thích, có khả năng biến hóa và làm ra các vật, các nghề khéo lạ, trông coi về phần kiến trúc), từ xa nhìn thấy việc này, xét biết ý vua muốn tạo tượng Phật liền trong đêm ấy suy nghĩ như vầy: “Chỗ hiểu biết về cơ thể, ta là bậc kì tài, trong cả thế gian không ai như ta, nếu ta vì vua tạo tượng, chắc hơi giống Phật.”

Liền biến thân mình thành người thợ mộc, cầm dụng cụ bén. Trời vừa hừng sáng, người đến đứng cạnh cửa cung nhà vua, bảo người giữ cửa bạch rõ vua rằng: “Nay tôi muốn vì vua mà tạo tượng, nghề khéo của tôi không ai sánh bằng, cúi xin nhà vua chớ sai người khác.”

Vua nghe lời ấy lòng rất vui mừng, ra lệnh mời vào, vua xem hình dạng, cử chỉ, biết là thợ giỏi, bèn nghĩ thầm rằng: “Thế gian làm sao mà có người nầy? Phải chăng Thiên thần Tỳ Thủ Yết Ma hay đệ tử Ngài đến nơi đây chăng?”

Liền đó nhà vua bèn cởi chuỗi ngọc đang đeo trên mình, tự tay cầm chuỗi, choàng lên cổ thần Tỳ Thủ Yết Ma, vua còn hứa đem các món châu báu tưởng thưởng công lao.

Lập tức nhà vua cùng quan giữ kho, đi vào trong kho soạn lựa gỗ thơm, đích thân vua kề vai khiêng vác, đem giao cho người thợ trời và bảo thợ rằng:

– Lành thay, thưa Ngài! Hãy dùng gỗ này, vì tôi tạo tượng, sao cho giống với hình- tượng Đức Phật.

Khi ấy, thợ trời liền thưa với vua:

– Tay nghề của tôi tuy rằng đệ nhất. Nhưng về việc tạo hình- tượng Đức Phật, trọn chẳng thể hết. Ví như có người, lấy than mà vẽ mặt trời, nói rằng vẽ giống thì thật phi lý. Dẫu lấy vàng ròng để tạo tượng Phật, lại cũng như thế.

Có những ngoại đạo thường tuyên bố rằng: “Phạm Vương có thể sáng tạo thế gian” nhưng cũng chẳng thể tạo hết tướng tốt nơi hình Đức Phật. Chỉ tay nghề của tôi trên hết trong đời, bởi vậy nay tôi vì vua mà làm. Sáng nay là ngày mùng tám trong tháng, đang lúc có sao Phất Sa và sao Tỳ Ha Đề xuất hiện. Khi Phật mới sinh, cũng có hiện ra điềm cảm ứng này. Hôm nay tốt lành, hãy nên khởi công.”

Thần Tỳ Thủ Yết Ma phát lời đó rồi, cầm búa đẽo gỗ, tiếng đẽo vang lên đến trời Đao Lợi, tới chỗ Đức Phật. Do thần lực Phật, tiếng vang đến đâu, những chúng sinh nào được nghe tiếng đục, tội cấu, phiền não đều được tiêu trừ.

Bấy giờ, Đức Như Lai bèn mỉm miệng cười nhiều cách, khen ngợi công đức của vua, cho đến ở xa thọ ký cho vua Thánh Đạo Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Lúc ấy, Đế Thích – Thiên chủ cõi trời Đao Lợi bạch Đức Phật rằng:

– Kính bạch Đức Thế Tôn! Nay tại thế gian có người nào, từng ở kiếp xưa tạo tượng Phật chăng?

Đức Phật bảo Ngài Thiên chủ Đế Thích:

– Những ai đã từng tạo tượng Đức Phật thủa quá khứ trước đây, đều đã được giải thoát cả rồi. Tại thiên chúng đây còn không có ai sót lại, huống gì nơi khác. Chỉ trừ một người con của ông Tỳ Sa Môn ở về phương Bắc, tên là Na Lý Sa Bà, thuở xưa có lần tạo tượng Bồ Tát, do phước này nên sau được làm vua, tên là Tần Bà Sa La. Lại do gặp ta, nay được sinh Thiên có thế lực lớn, lìa hẳn ác đạo.

Tỳ kheo Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Da Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, cả ba vị này kiếp xưa từng sửa chùa thờ tượng Phật, do nhân duyên đó vĩnh viễn giải thoát. Ông Kiều Phạm Ba Đề kiếp xưa là thân trâu, nhân tìm cỏ nước đi quanh chùa, ăn cỏ trong những bụi tre, do thấy tôn dung của tượng Phật phát tâm vui mừng, nhờ phước đó mà nay được giải thoát. Ông Thi Tỳ La từng cầm lọng báu cúng dường tượng Phật. Ông Nậu Lâu Đà thắp một ngọn đèn cũng để cúng dường tượng Phật. Ông Du Bệ Ma từng quét nền dưới tượng Phật. Ông A Bà Ma Na ở trước tượng Phật thắp đèn giúp sáng, Tỳ kheo Nan Đà mến trọng tôn nghi, nên dùng nước thơm gội rửa tượng Phật v.v… có vô lượng vị A La Hán như vậy, tất cả đều từng ở chỗ tượng Phật dâng lễ vật mọn cúng dường. Cho đến thấp nhất như ông Na Già Ba La, ở trước tòa tượng Phật, dùng chút ít son vàng vẽ thân một tượng vì để cúng dường… Do phước này nên đều lìa hẳn khổ và được giải thoát.

Đức Phật bảo tiếp:

– Này Thiên Đế Thích! Nếu có người nào, có thể ở thời giáo pháp của ta chưa diệt tận, mà tạo tượng Phật, sẽ ở nơi hội đầu tiên của Phật Di Lặc, đều được giải thoát.

Nếu chúng sinh nào, chẳng phải vì bản thân của mình, cầu xuất ly vì muốn chứng quả Vô Thượng Bồ Đề mà tạo tượng Phật, nên biết đó là cái nhân chính của ba mươi hai tướng, có thể làm cho người ấy nhanh chóng thành Phật.

Bấy giờ, vua Ưu Đà Diên, tự tâm suy nghĩ: “Làm sao khiến cho pho tượng ta tạo mau được hoàn thành.” Nghĩ như thế rồi nói với thợ trời:

– Ngài cố gắng sức giúp cho công việc mau được hoàn tất, cho tôi sớm được chiêm ngưỡng, lễ lạy.

Lúc đó, vị thợ trời Tỳ Thủ Yết Ma trổ hết tài khéo, chuyên tâm chẳng biếng trễ, không đầy một ngày mà tạo thành tượng. Tượng ngồi kiết già, cao bảy thước mộc, mặt và tay chân đều màu vàng tía.

Vua Ưu Đà Diên thấy tượng được hoàn thành, tướng tốt trang nghiêm, tâm vua phát sinh đức tin thanh tịnh chứng “Nhu thuận nhẫn”. Chứng được rồi vua càng mừng rỡ, bao nhiêu nghiệp chướng và những lo buồn đều tiêu tan hết, như mặt trời mọc sương mù đều tan hết, chỉ trừ một nghiệp mà hiện thân đang chịu, là bởi đã từng đối với Thánh nhân khởi lời nói ác. Nhà vua khi ấy đem toàn những món ngọc quý, vật lạ ban thưởng thợ trời, nhưng vị thợ trời thưa với nhà vua:

– Nay vua tạo tượng lòng tôi tùy hỷ, nguyện cùng nhà vua đồng tu phước này. Nay vua ban cho, tôi không dám nhận.Nếu cần cho nhau, xin hãy đợi đến một ngày lành khác.

Vị thần nói xong liền trong đêm ấy trở lại cõi trời. Ngay sau đó, các vua nước lớn, như vua A Xà Thế v.v… các vua ấy đối với Đức Phật, đều mang một niềm khao khát ngưỡng mộ, nghe vua Ưu Đà Diên tạo tượng công phu đã thành, họ đều mừng rỡ, cùng nhau đến chỗ vua Ưu Đà Diên, vua nào cũng đem rất nhiều hoa, hương, âm nhạc cúng dường tượng Phật, lại đem các món ngọc quý trao tặng vua Ưu Đà Diên. Các vua đều nói:

-Việc làm của Ngài thật là hiếm có, hay nhổ được mũi tên độc buồn rầu cho cả chúng tôi.
Đang trong khi ấy trên trời Đao Lợi, Đức Như Lai đã vì mẫu thân của Ngài diễn nói kinh pháp, và hàng chư Thiên đều được lợi mừng. Những việc đáng làm Phật đã làm xong. Đức Phật lại bảo các Thiên chúng rằng:

– Hỡi các Thiên tử! Chư Phật Thế Tôn là thân Thường trụ (Chú thích: vĩnh cửu, ở đây là chỉ Pháp thân của Phật). Nếu các chúng sinh, người nào đáng độ, chư Phật liền vì đó hiện ra giáo hóa, nói pháp cho nghe. Nếu những Phật sự đã xong xuôi rồi, không còn người nào có thể thọ pháp giáo hóa, Như Lai khi đó liền chẳng hiện nữa. Kẻ không trí tuệ cho rằng Đức Phật diệt độ thật sự. Thân chư Như Lai chính là Pháp thân, là thân thường hằng, thật sự chẳng diệt độ.
Này chư Thiên tử! Pháp của chư Phật đều như vậy cả, vì giáo hóa chúng sinh mà có xuất hiện, hoặc không xuất hiện.

Kế đó Đức Phật lại dạy, nói tiếp:

– Các ngươi nên biết! Hàng chư Thiên đây, những người đáng độ ta đã độ rồi. Nay ta sắp xuống cõi Diêm Phù Đề, chư Thiên các người nếu nghĩ đến ta, hãy siêng tinh tấn, chớ có buông lung.

Vì sao thế? Cũng vì tội lỗi của sự buông lung, làm cho các người chẳng được Thánh Đạo Vô Thượng Bồ Đề. Song bởi các ngươi về thuở xa xưa từng trồng căn lành, nay được ở đây hưởng lạc thú cõi Trời, để rồi buông lung, say đắm thú vui, chẳng tu phước hạnh. Những khoái lạc này theo sự vô thường, một phen rơi rụng, là trôi nổi mãi trong các đường ác.

Lại nữa chư Thiên! Các người phiền não rất nặng, thấy ai hơn mình bèn sinh ganh tỵ, chẳng từng nghĩ rằng: cõi Trời nào vui sướng hơn là do tạo nhiều phước nghiệp chiêu cảm, nếu ta siêng tu thì cũng sẽ được. Nay đây các người thân sắc sáng nhuận, như mặt trời mọc vào buổi bình minh, nếu hay ôm lòng ganh ghét, đố kỵ, thì sẽ đen tối như tro than tàn, còn phải đọa vào ngục tối tăm, đến đỗi chẳng thể tự thấy bàn tay mình, sau còn phải làm quỷ ăn đồ bẩn nữa.
Lại nữa chư Thiên! Hưởng những phước báo được thân nghiêm tịnh, oai thế dũng mãnh, do ganh tỵ nên sẽ chịu thân nữ, mất hẳn sức lực oai hùng dũng mãnh của bậc trượng phu.

– Hỡi các Thiên tử! Ta nhớ thuở xưa có vô lượng vị vua, vì lòng ganh tỵ của chính các người, mà phải bị hại một cách phi lý.

Này các Thiên tử! Xưa có vua A Tu La (Chú thích: phi thiên, một dạng thần có phước báo lớn, nhưng không phải chư Thiên) tên là Ô La, tu hành khổ hạnh, giới phẩm trong sạch, chư Thiên các người sai một Thiên nữ tên Ô Bà Thi mê hoặc tâm vua, khiến mất phẩm hạnh. Vua ấy đắm nhiễm, cho nên oai đức tổn giảm, bị trời Na La Diên giết hại, và cả vô lượng dân chúng A Tu La cùng lúc bại diệt. Trời Na La Diên giết vua A Tu La này rồi, lại tru diệt luôn binh chúng Tu La, thâu hồi Thiên nữ Ô Bà Thi trở về Thiên cung.

Lại có một vua A Tu La tên Na Ha Thọ, chư Thiên các người dùng lời gạt gẫm ông ta, lại giúp các Thiên chúng khác đánh phá A Tu La. Rồi chư Thiên các người quay lại hại ông ta.

Lại nữa chư Thiên! Các người vì cớ Xá Chỉ phu nhân (Chú thích: bà này vốn là công chúa A Tu La, sau làm vợ Đế Thích) sinh tâm ghen ghét, Xá Chỉ xúi giục vua A Tu La gây hấn, khiến cho Tiên nhân tên A Già Bà vô cớ bị ngờ mà nổi lời nguyền độc địa.

Lại nữa, chư Thiên các người từng dối gạt, bảo vua Ế Trà rằng: “Chỗ của người Tiên có nhiều vàng ròng”, vua Ế Trà tin lời này ép người Tiên đưa ra, vua Tiên do đây lòng sinh căm giận, liền đó vua Tiên bị lửa mạnh đốt cháy.

Xưa lại có vua trời tên là Đề Bà, trước thường bày đại hội để cúng dường, do phước nghiệp này oai lực tự tại, bèn sinh lên trời đây hưởng lạc thú trời, chư Thiên các người ôm lòng ganh tỵ, hãm hại khiến cho Đề Bà từ trời Đao Lợi rớt xuống trần gian, bao nhiêu oai thế thảy đều tan nát, như trăng hết sáng, như sông cạn nước.

Này các Thiên tử! Trong đời lắm người oai đức tự tại. Hoặc được thần thông, có người thành tựu bốn sức Thần túc… nếu khởi lên một niệm ganh tỵ, công đức như thế lui mất trong một lúc, như Đề Bà Đạt Đa chẳng hạn, si mê dày đặc mới đối với ta mà sinh lòng ganh, lập tức mất năm thứ thần thông.

Lúc ấy, Thiên Đế bạch lên Đức Phật:

– Kính bạch Đức Thế Tôn! Nay con có nghi muốn được thưa hỏi: Về sự ganh tỵ là như thế nào?

Thiên Đế hỏi tiếp:

– Kính bạch Đức Thế Tôn! Nếu có chúng sinh thấy người hơn mình bèn nghĩ như vầy: “Làm sao cho ta thu hoạch được những gì người kia đã được”, tâm ấy có phải là ganh tỵ chăng?
Đức Phật đáp:

– Không phải! Đó là tâm tham, không phải ganh tỵ. Này Thiên Đế Thích! Ganh tỵ nghĩa là tự mình cầu danh lợi chẳng muốn người khác có, thấy cái người khác có mà sinh ghét giận, ấy là ganh tỵ.

Bấy giờ, các hàng Thiên chúng, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, gối mặt chấm đất, chấp tay hướng Phật và bạch lời rằng:

– Như lời Phật dạy, chư Thiên chúng con đều sẽ vâng làm. Lạy Đức Như Lai tôn kính trên đời, là Cha, là Chúa, là đấng tối tôn, là đấng Tối thắng. Đối với chúng con, khởi đại Từ Bi mà đến nơi đây khiến các Thiên chúng đều được lợi ích. Sở nguyện chúng con vẫn chưa được mãn, muốn một lần nữa thỉnh Phật một điều:

Kính bạch Đức Thế Tôn! Người dưới thế gian đối với chư Thiên chúng con, họ hay khinh lờn. Vì sao ? Bởi các Đức Phật sinh trong loài người, và ở cõi người thành bậc Chánh Giác. Giữa loài người có những vị A La Hán đã được chứng quả. Các vị Độc Giác có oai đức lớn, lại cũng xuất hiện giữa lòng nhân loại.

Nay Đức Như Lai nếu chẳng ở đây, đi xuống cõi Diêm Phù Đề, thì người thế gian đều sẽ cho rằng: Chư Thiên chúng con chẳng biết Như Lai có oai đức lớn, đáng để chư Thiên đúng pháp cúng dường. Và còn cho rằng: Chúng con chẳng hay cúng dường các đức Như Lai tôn quý của đời. Mong Đức Như Lai nán lại một chút, nhận phần cúng dường nhỏ mọn của chúng con, để người thế gian biết hàng chư Thiên đã cúng dường Đức Phật.

Khi ấy Đức Phật im lặng nhận lời. Bấy giờ, Phật bảo tôn giả Đại Mục Kiền Liên:

– Người hãy về trước dưới Diêm Phù Đề, thăm hỏi bốn chúng, nói lời như sau: “Tất cả những ai nhớ nghĩ đến ta, đều nên nhóm hội tại nước Tăng Già Thi, trong bảy ngày nữa sẽ được thấy ta.”

Ngài Mục Kiền Liên lạy dưới chân Phật, lạy chân Phật rồi, trong khoảng chớp mắt đã hiện đến cõi Diêm Phù Đề, đem lời Phật dạy nói với bốn chúng. Vua Ưu Đà Diên cùng cả mọi người nghe Phật báo tin, thân tâm người nào cũng mừng khấp khởi, đều trừ nỗi buồn, đều được thoải mái.

Lúc ấy bốn chúng, các vị Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni, các Cư sĩ nam và Cư sĩ nữ, muốn cùng qua đến nước Tăng Già Thi, trước hết họ nhóm họp tại thành Vương xá, bàn với nhau rằng:

– Đức Phật Như Lai, bậc tôn kính của thế gian, sắp sửa trở xuống cõi Diêm Phù Đề, người nào có thể cung kính lễ lạy Đức Phật trước nhất, người ấy sẽ làm thượng thủ trong khoảng thời gian pháp chưa diệt tận.

Tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên nghe lời đó rồi, trong lòng chẳng vui, e rằng bên Ni được làm thượng thủ. Vì sao thế? Trong toàn Ni chúng có Ưu Ba Ban Đà và Liên Hoa Sắc. Hai Tỳ kheo Ni này có thể thông suốt Tạng pháp chư Phật, thần thông chứng được, chỉ trừ Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, ngoài ra không ai bằng hai bà. Nghĩ như thế rồi, ngài Ca Chiên Diên đủ cách quở rầy chúng Tỳ kheo Ni.

Lúc đó, Tỳ kheo Liên Hoa Sắc, bảo Ni chúng rằng:

– Người nữ chúng ta ở giữa thế tục thường được tôn quý, dẫu cho dòng dõi có hèn chăng nữa, vẫn được đàn ông cung kính nể vì, cung phụng đủ thứ. Vả lại chư Ni trong pháp của Phật, cha mẹ quyến thuộc, phần nhiều thuộc về dòng dõi vua quan. Ni giới chúng ta tinh tấn, trì giới, chẳng phạm oai nghi, đủ các đức nghiệp, vậy mà vẫn phải lễ kính Tỳ kheo mới thọ đại giới. Tôn giả Ca Chiên Diên nay lại nhiều điều quở trách thế này… Ta sẽ vì chư Ni bày các phương tiện, khiếnTỳ kheo Ni xuất sắc hơn Ngài.

Nói như thế rồi cùng với bốn chúng, đồng đến dự nơi thành Tăng Già Thi.

Bấy giờ, vua Ba Tư Nặc, vua A Xà Thế và vua Nghiêm Xí nước Tỳ Xá Ly… Mỗi vua đều dẫn bốn đội binh hùng (Chú thích: bộ binh, kị binh, xa binh, tượng binh) hộ tống theo vua, có thế lực lớn. Voi ngựa được cỡi đều dùng các thứ vật quý tô điểm. Cờ xí, phan lọng, hương hoa, kỹ nhạc, oai dung nghiêm nghị, tướng trạng dường như các vị Thiên thần, họ đều qua đến thành Tăng Già Thi.

Vua Ưu Đà Diên lúc đó nghiêm chỉnh, đội ngũ bốn binh làm kẻ thị tùng. Vua cỡi voi trắng, có châu ngọc thêu thùa, đích thân vua chở tượng Phật đã tạo. Rải hoa, cầm phướn (Chú thích : nay gọi là băng- rôn), nhạc công trỗi nhạc đi theo cúng dường, từ nước của vua hướng về thành Tăng Già Thi.

Khi ấy, Thiên thần Tỳ Thủ Yết Ma, cùng chư Thiên chúng, biết Phật sắp sửa xuống Diêm Phù Đề, bèn tạo ra ba con đường có thềm cấp quý, từ thành Tăng Già Thi đến trời Đao Lợi, thềm cấp đường giữa tạo bằng lưu ly, thềm đường hai bên đều bằng hoàng kim, chỗ đặt chân xuống lót bằng bạc trắng, xen kẽ với bảy thứ ngọc cõi trời.

Thiên chủ Đế Thích sai các Thiên sứ đến Trời Dạ Ma, trời Đâu Suất Đà, đến trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại và trời Phạm Thế, để báo tin rằng: “Đức Phật sắp xuống cõi Diêm Phù Đề, như muốn cúng dường xin xuống nơi đây.”

Lại sai sứ xuống trời Tứ Thiên Vương, Long Vương biển lớn, vua Càn Thát Bà, vua Khẩn Na La, và chúng Dạ Xoa, bảo với họ rằng: “Nay Đức Thế Tôn sắp xuống cõi Diêm Phù Đề, các vị có thể đem những cúng phẩm đến đây cúng dường.”

Lúc đó, các Trời, Rồng, Thần v.v… nghe lời báo rồi, ai cũng vân tập về trời Đao Lợi.

Bấy giờ, đức Thế Tôn ở tại đỉnh núi Tu Di, cùng với đông đảo chư Thiên các cõi trời lúc sắp đi xuống, toàn thể chư Thiên trước sau rợp trời, oai đức lừng lẫy, ánh sáng rạng ngời như ánh trăng tròn ở giữa không gian, muôn sao giăng bủa, như vừng thái dương vừa mới xuất hiện, rực rỡ chói chang. Phật và hội chúng trạng thái lúc ấy cũng ví như vậy.

Ngay trong lúc đó, do thần lực Phật cho nên cõi Diêm Phù Đề có năm điều hiếm có:
Một là, khiến chư Thiên kia chẳng thấy những vật không sạch ở chốn nhân gian.

Hai là, khiến cho nữ giới thấy các Thiên nam mà không tưởng đến đắm nhiễm tình dục.
Ba là, khiến những người nam thấy các Thiên nữ chẳng sinh ý nhiễm.

Bốn là, khiến người trần gian từ xa nhìn rõ những món cúng dường của các Thiên chúng.
Năm là, thân của chư Thiên sáng sạch, đẹp đẽ, người đời chẳng nhìn thấy, do thần lực Phật, cho nên con người có thể nhìn thấy một cách rõ ràng.

Khi đó Đức Phật từ trên Thiên cung vừa đặt chân xuống thềm báu đường giữa, thì trời Phạm Vương đứng phía bên phải, tay cầm lọng trắng và trời Đế Thích phía bên trái, tay cầm phất trắng. Ngoài ra chư Thiên đều nương hư không, theo Phật đi xuống, cùng lúc đồng trỗi lên đủ thứ âm nhạc.

Chư Thiên cầm những tràng phan, bảo cái, rải hoa cúng dường. Các vị Thiên chúng cõi trời Tịnh Cư chật cả hư không, vô lượng trăm ngàn chư Thiên, thể nữ đeo những chuỗi ngọc cùng nhau ca tụng Thánh đức của Phật.

Lại có chư Thiên ở giữa hư không, rắc những thứ hương và những hoa thơm. Các vị Long thần tuôn mưa thơm nhẹ. Lúc đó không gian chẳng có mây che, tiếng sấm êm dịu làm cho người nghe tâm hồn vui đẹp. Thần Càn Thát Bà, thần Khẩn Na La, hòa tấu khúc nhạc Đề Bà Na Già vô cùng tuyệt diệu, ca ngợi những việc đời trước của Đức Như Lai.

Khi ấy, trong Diêm Phù Đề, vua chúa quan dân và bốn bộ chúng, đầy khắp giáp cả thành Tăng Già Thi, nào rắc hoa thơm, nào cầm phan lọng, thổi ốc, đánh trống, các thứ âm nhạc, hướng lên hư không tỏ lòng cúng dường. Đưa tay,chấp tay chiêm ngưỡng Đức Phật.

Hoa thơm danh tiếng cõi trời, cõi người, trên dưới giao nhau rơi xuống đan xen, phủ lên đến đầu gối, đồ chúng ngoại đạo thấy việc trên đây, đều cùng phát tâm quy y lễ kính.

Khi Đức Thế Tôn chân đáp trên thềm báu, lần lượt đi xuống vừa được nửa chừng, thì bốn Thiên Vương ở chỗ của mình, sắp bày lễ phẩm cúng dường Đức Phật, sự cúng dường này vô cùng khéo lạ, ngàn xưa đến nay loài người chưa có.

Đức Thế Tôn nhận sự cúng dường của bốn vị Thiên Vương, rồi cùng đại chúng xuống hết các bậc, đến bậc cuối cùng, Đức Phật sắp sửa đặt chân xuống đất, thì Tỳ kheo Ni Liên Hoa Sắc liền biến thân mình làm Chuyển Luân Vương, lãnh bốn binh chủng và bảy thứ báu, đi tới trước tiên, từ không trung xuống vội tới chỗ Phật.

Các vị quốc vương ai cũng tự hỏi: “Vua Chuyển luân này, từ đâu đến đây?”

Lúc ấy, Tôn giả Tu Bồ Đề đang ở trong phòng, biết Phật xuống đến, liền sửa y phục lễ kính (Chú thích: khi đó ngài Tu Bồ Đề dùng cách Quán Không Tướng mà nghênh đón Phật). Tỳ kheo Ni Liên Hoa Sắc bỏ thân Luân Vương hoàn lại hình cũ, liền vội đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn.

Khi đó, Đức Phật đủ điều quở trách Tỳ kheo Ni ấy và bảo bà rằng:

– Ngươi không biết sao? Ông Tu Bồ Đề lễ Ta trước rồi. Ngươi được ai bảo mà biến làm Chuyển Luân Vương? Ngươi được dự vào hàng ngũ xuất gia, thọ giới Cụ Túc đã quá phận rồi. Trí ngươi nhỏ mọn, còn sự xiểm trá lại không bờ bến, dù cho từ bi báo đáp ân đức, thì cũng chỉ như một giọt sương mai, há có thể nào ở trong pháp Ta làm Thượng thủ sao?

Ni Liên Hoa Sắc nghe Phật răn dạy, rất sinh tâm xấu hổ, liền bạch Phật rằng:

– Kính bạch Đức Thế Tôn! Nay con tự biết tội lỗi mình không ít. Từ nay về sau, con không dám biến hiện thần thông nữa.

Bấy giờ trong Diêm Phù Đề, các vị quốc vương các vị quan quyền và bốn bộ chúng, đều đem các món cúng phẩm mang theo, dâng cúng Đức Phật.

Vua Ưu Đà Diên đầu đội tượng Phật và những vật cúng quý lạ bậc nhất đến chỗ Như Lai và dâng hiến lên. Thân Đức Phật tướng tốt đầy vẻ đoan nghiêm thù thắng, sáng ngời ở giữa chư Thiên, ví như trăng tròn ra khỏi mây che. Còn tượng Phật chạm khắc, so với Đức Phật thật, không khác gì gò đống mà so sánh với núi Tu Di, chẳng thể nào ví dụ được, chỉ có xoắn tóc và tướng ngọc hào giống Phật một ít, để khiến bốn chúng biết đó là tượng Phật.

Vua Ưu Đà Diên bạch Đức Phật rằng:

– Kính lạy Thế Tôn! Đức Như Lai thuở xưa ở trong sinh tử cầu đạo Bồ Đề, thực hành vô lượng vô biên hạnh khổ khó làm, khó nhẫn, kết quả được thân nhiệm mầu hơn hết, không ai sánh bằng. Pho tượng con tạo chẳng giống Đức Phật, con tự trộm nghĩ rất là tội lỗi.

Đức Thế Tôn bảo vua Ưu Đà Diên:

– Chẳng bị tội lỗi! Nay ông đã làm lợi ích vô lượng, không có người nào sánh bằng với ông. Nay ông ở trong giáo pháp của ta, làm người gương mẫu đầu tiên. Bởi nhân duyên này, làm cho vô lượng chúng sinh đời sau, được sinh đức tin rất sâu sắc. Ông nay đã được vô lượng phước đức, căn lành rộng lớn.

Khi đó vua trời Đế Thích lại bảo vua Ưu Đà Diên:

– Nay vua ở đây chớ có lo sợ. Khi Đức Như Lai trước ở cõi trời và nhân gian này, đều khen ngợi về công đức tạo tượng của vua, còn chư Thiên chúng thì rất tùy hỷ. Người có tín tâm trong đời sau này, đều nhờ nơi vua mà tạo tượng Phật để được hưởng phước, nay vua hãy nên vui vẻ tự mừng.

Bấy giờ, Đức Phật ngồi tòa Sư Tử, tại nơi đạo tràng nước Tăng Già Thi. Tâm của bốn chúng người nào cũng nghĩ: “Chúng ta mong được nghe Đức Như Lai diễn nói công đức của việc tạo tượng. Nếu chúng sinh nào làm, người ấy được phước cỡ nào?”

Lúc đó, Ngài đại Bồ Tát Di Lặc biết ý nghĩ ấy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy sửa áo, hở vai bên phải, quỳ thẳng chấp tay bạch lên Đức Phật:

– Kính bạch Thế Tôn! Vua Ưu Đà Diên tạo hình – tượng Phật, nếu Phật còn tại thế hoặc nhập Niết Bàn rồi, người có lòng tin, có thể tùy phần tạo hình – tượng Phật, người ấy gặt hái công đức thế nào? Cúi mong Thế Tôn nói rộng tướng ấy.

Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc:

– Di Lặc ! Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ vì ông mà nói.

Nếu có người thiện nam, thiện nữ nào đức tin trong sạch, chuyên tâm buộc niệm về công đức của Phật, thường xét Như Lai oai đức tự tại, đầy đủ. Mười lực, bốn Vô Sở Úy, mười tám Pháp Bất Cộng, Đại từ, Đại bi, Nhất Thiết Chủng Trí, ba mươi hai tướng của Đại trượng phu, tám mươi tướng phụ. Mỗi lỗ chân lông đều có vô lượng ánh sáng khác màu, trăm ngàn ức thứ phước đức siêu thắng trang nghiêm tạo thành, vô lượng trí tuệ sáng tỏ thông suốt, vô lượng Tam muội, vô lượng thần thông… Tất cả các thứ công đức như vậy không có hạn lượng, lìa các lỗi lầm, không ai sánh bằng.

Người nào xét nghĩ rồi sinh tin ưa một cách sâu sắc, y các tướng tốt mà tạo tượng Phật, công đức người ấy rộng lớn vô biên, không thể tính đếm.

Di Lặc! Nếu có người nào dùng những tơ sợi thêu thùa hình Phật, hoặc là nấu đúc bằng các thứ vàng, bạc, đồng, sắt, chì, kẽm… Hoặc điêu khắc bằng gỗ thơm Chiên đàn, hoặc khắc bằng các thứ trân châu, sò ốc, gấm vóc dệt thành, bằng đất đỏ, thạch cao, đất sét, hoặc các thứ gỗ.v.v… (Chú thích: thời nay công nghệ phát triển, chúng ta có thêm nhiều cách thức tinh vi để vẽ, tạc, tạo hình, tạo tượng Phật như Photoshop, in 3D…công đức đều đồng như trên). Dùng những vật đó tùy phần sức mình tạo ra hình – tượng Phật, cho đến rất nhỏ như ngón tay cái, có thể khiến cho người khác nhìn biết đó là Tôn tượng, phước báo người này ta sẽ nói:

Di Lặc! Những người như vậy ở trong sinh tử tuy còn trôi lăn, trọn chẳng sinh tại gia đình nghèo cùng, cũng chẳng sinh nhà dòng dõi thấp hèn, cô đơn hẻo lánh ở biên địa. Lại cũng chẳng sinh vào nhà tà kiến, con buôn, nhà làm hàng thịt, cho đến chẳng sinh vào dòng hèn hạ, kỹ nữ bất tịnh, hoặc nhà ngoại đạo, khổ hạnh tà kiến… trừ khi vì sức thệ nguyện Từ Bi, ngoài ra chẳng sinh vào những nhà ấy.

Người này thường sinh nhà thuộc dòng tộc vua Chuyển Luân Vương có thế lực lớn. Hoặc sinh giòng Bà La Môn tịnh hạnh, hoặc nhà giàu sang không tạo tội nặng. Sinh ở nơi nào cũng thường gặp Phật, vâng thờ cúng dường. Hoặc được làm vua hộ trì chánh pháp, đem pháp giáo hóa, chẳng làm trái đạo. Hoặc làm vua Chuyển Luân Thánh Vương oai hùng, đủ bảy báu vật, đủ ngàn người con, bay đi trên không giáo hóa bốn châu, suốt một cuộc đời tự tại giàu sang, vui sướng.

Hoặc làm vua Trời Đao Lợi, vua Trời Dạ Ma, vua trời Đâu Suất, vua trời Hóa Lạc, vua trời Tha Hóa Tự Tại… lạc thú Trời người, không gì chẳng hưởng, phước báo như thế nối tiếp không dứt. Sinh ra nơi đâu cũng là đàn ông, không chịu thân nữ, lại cũng chẳng chịu thân đồng tính, song tính luyến ái hèn hạ (Chú thích: song tính luyến ái là bị hấp dẫn về mặt cảm xúc, tình cảm và tình dục với cả người cùng giới tính và khác giới tính với mình).

Thân được thọ sinh không bị xấu xí, mắt chẳng mù chột, tai chẳng điếc, mũi chẳng cong gãy, miệng chẳng méo lệch, môi chẳng trề xuống, cũng chẳng túm rút, răng chẳng thưa thiếu, chẳng đen, chẳng vàng, lưỡi chẳng ngắn thụt, cổ chẳng bướu nhọt, thân chẳng lưng gù, da chẳng loang lỗ, tay chẳng cụt ngủn, chân chẳng lệch què, chẳng quá ốm o, chẳng quá béo mập, cũng chẳng quá dài, cũng chẳng quá ngắn… Đều không có các tướng chẳng đáng ưa.

Thân của người ấy ngay ngắn, đoan trang, mặt mày đầy đặn. Tóc biếc mềm mại, sáng sạch. Môi đỏ như son, mắt như sen xanh, tướng lưỡi rộng dài. Răng trắng, bằng khít, nói ra lời hay ý khéo, khiến người nghe ai cũng vui lòng đẹp dạ. Khuỷu tay vừa chừng. Bàn tay bằng phẳng, lưng vế đầy đặn, vai ngực nở nang, tay chân dịu dàng dường như bông vải, các tướng đầy đủ không bị khuyết thiếu, gân sức mạnh mẽ, tựa hồ như trời Na La Diên ( Chú thích : đại lực sĩ cõi trời)

Di Lặc! Ví như có người rớt vào hầm cầu tiêu, từ đó thoát được ra, cạo bỏ phẩn uế, lấy nước rửa sạch, dùng hương thoa thân, mặc áo mới sạch… Người như thế đó so với người còn ở trong hầm cầu tiêu, chưa được ra khỏi, vậy sự nhơ bẩn và sự thơm tho, hỏi cách nhau bao nhiêu?

– Kính bạch Thế Tôn! Hai việc ấy cách xa không biết bao nhiêu lần!

– Di Lặc! Nếu có người nào còn trong sinh tử, phát lòng tin tạo hình – tượng Phật, so sánh với lúc người ấy chưa tạo, thì sự cách xa lại cũng như vậy. Nên biết người ấy đời đời sinh ra trừ sạch nghiệp chướng, các thứ kỹ thuật, không thấy mà hiểu. Tuy sinh làm người mà các giác quan được coi như cõi trời. Nếu sinh lên trời, thì vượt trội hơn rất nhiều Thiên chúng. Sinh ra nơi nào cũng không tật nguyền, không bị phong hủi, không bị ung thư, không bị dựa nhập bởi các quỷ mị. Không mắc những bệnh điên cuồng khô héo, vàng da sốt rét, sạn hòn, ghẻ dữ, thẹo sâu, thổ tả vô độ, ăn uống không tiêu, cựa mình nhức nhối, tê liệt nửa người…Những chứng bệnh như vậy, cả đến bốn trăm lẻ bốn chứng thảy đều không có.

Lại cũng chẳng bị các thứ thuốc độc, binh khí, gậy gộc, cọp, sói, sư tử, nước, lửa, trộm, cướp… những nghịch duyên xảy ra bất ngờ như vậy không làm tổn hại. Thường được không sợ hãi, chẳng phạm các tội.

Di Lặc! Nếu có chúng sinh trước tạo nghiệp ác, phải chịu đủ thứ các sự khổ não, như bị kìm kẹp, còng khóa, gông xiềng, đánh mắng, thiêu đốt, châm chích, xẻ da, nhổ tóc, treo ngược lên cao, cho đến hoặc bị mổ xẻ lòng ruột… Nếu phát lòng tin tạo hình – tượng Phật, thì khổ báo ấy thảy đều chẳng thọ. Chẳng sinh những chỗ giặc giã quấy nhiễu, thành trì sụp đổ, sao dữ biến quái, đói kém ôn dịch… Những chỗ như thế đều chẳng sinh đến, nếu nói có sinh, đó là vọng ngữ.

Lúc ấy, Ngài Đại Bồ Tát Di Lặc bạch Phật:

– Kính bạch Thế Tôn! Như Lai thường nói “Nghiệp lành, nghiệp dữ đều chẳng mất mát” Nếu có chúng sinh gây tạo nghiệp nặng, phải sinh vào nhà giòng họ hèn mọn, nghèo nàn tật nguyền, mạng sống ngắn ngủi. Sau phát lòng tin tạo hình – tượng Phật, các tội báo này là còn phải chịu hay là chẳng chịu?

Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc:

– Ông nay nghe kỹ, Ta sẽ vì ông nói. Nếu chúng sinh nào gây các tội rồi, phát tâm tạo tượng cầu xin sám hối, quyết định dứt trừ, thề không phạm lại, thì tội đã tạo đều được tiêu diệt. Nay ta vì ông nêu rộng việc này.

Di Lặc! Ví như có người đời trước bỏn sẻn, do duyên cớ đó chịu khổ nghèo nàn, không có của cải, thiếu thốn vật dùng, bỗng gặp Tỳ kheo trước đó nhập định, từ trong định vừa xuất ra, người kia liền đem món ăn thức uống dâng lên cúng dường, người ấy cúng rồi, sẽ khỏi khổ nghèo nàn, phàm có cầu gì, đều như ý muốn. Di Lặc! Nghiệp ác đời trước và chỗ mắc báo của người nghèo kia nay có còn chăng?

Ngài Di Lặc thưa:

– Kính bạch Thế Tôn! Nhờ cúng thức ăn mà nghiệp ác cũ thảy đều diệt hết, lìa hẳn nghèo nàn và được giàu có, của cải sung túc.

Đức Phật dạy rằng:

– Bồ Tát Di Lặc! Đúng như ông nói, nên biết, người kia lại cũng như vậy. Nhờ tạo tượng nên những nghiệp ác cũ hết hẳn không còn, chỗ đáng chịu quả báo đều chẳng chịu nữa.

Di Lặc! Nghiệp có ba thứ. Một là, hiện đời chịu báo. Hai là, đời sau chịu báo. Ba là, nhiều đời về sau mới chịu quả báo… Trong ba loại nghiệp như vừa nêu trên, mỗi loại nghiệp đều có Định và Bất định. Người có lòng tin tạo hình – tượngPhật, chỉ có định nghiệp trong hiện đời còn phải chịu lãnh ít phần, ngoài ra chẳng chịu những thứ nghiệp khác.

Khi ấy, Bồ Tát Di Lặc bạch rằng:

– Kính bạch Thế Tôn! Như Lai thường nói: Có năm thứ nghiệp rất là sâu nặng, quyết định đọa tại địa ngục Vô gián (Chú thích: là hạng địa ngục khủng khiếp nhất, cực hình không gián đoạn). Đó là các tội: giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, ác tâm làm cho thân Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng. Nếu có chúng sinh trước tạo tội này, sau sinh lòng tin đối với Đức Phật và tạo hình – tượng Phật, người này có còn đọa địa ngục hay chẳng bị đọa?

Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc:

– Nay ta vì ông nói một thí dụ nữa: Giả như có người, tay cầm cung mạnh ở giữa rừng cây, nhằm lên phía trên bắn những lá cây, mũi tên đi suốt không bị trở ngại. Nếu có chúng sinh gây tội nghịch kia, sau tạo tượng Phật, thành tâm sám hối, dù được đức tin chưa chắc chắn lắm, người ấy tội được nhẹ đi, thì dù có đọa địa ngục chăng nữa cũng liền ra khỏi, như mũi tên bắn đi suốt không ngừng, trường hợp người này lại cũng như vậy…

Lại như Tỳ kheo, chứng Thần túc thông, từ bờ bên này qua bên kia, biển quanh cả bốn châu không gì ngăn ngại. Người kia cũng thế, do tội đã phạm, trước tạm đọa địa ngục, sau được thoát, nghiệp trước chẳng có thể làm trở ngại.
Bồ Tát Di Lặc lại bạch hỏi tiếp:

– Kính bạch Thế Tôn! Chư Phật Như Lai là thân Pháp tánh, chẳng phải là thân thuộc về sắc tướng. Nếu lấy sắc tướng làm thân Đức Phật, thì Tỳ kheo Nan Đà và Chuyển Luân Vương lẽ ra là Phật, bởi vì họ đều có đủ các tướng tốt. Như có chúng sinh phá hoại Pháp thân Phật, pháp nói là phi pháp, phi pháp nói là pháp, sau phát lòng tin và tạo tượng Phật, thì tội nặng này là cùng tiêu diệt, hay chẳng được diệt?

Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc:

– Nếu chúng sinh nào pháp nói là phi pháp, phi pháp nói là pháp, chỉ dùng miệng nói mà không phá kiến, sau sinh tin ưa tạo hình – tượng Phật, thì nghiệp ác trước, chỉ nơi hiện thân bị chịu báo nhẹ, chẳng đọa đường ác, song với sống chết chưa giải thoát liền.

Bồ Tát Di Lặc lại thưa hỏi tiếp:

– Kính bạch Thế Tôn! Nếu có người nào, trộm lấy những vật trong bảo tháp Phật, trộm vật của Thường Trụ, trộm vật bốn phương Tăng, vật hiện tiền Tăng, tự mình tiêu dùng, đem cho người dùng, coi như của mình. Thế Tôn thường nói: “Dùng vật lấy trộm từ trong tháp Phật hay vật của Tăng, tội ấy rất nặng.” Vậy chúng sinh nào tạo tội ấy rồi rất tự hối trách, khởi lòng tịnh tín và tạo tượng Phật, các hạng người đó tội được diệt chăng?

Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc:

– Nếu chúng sinh nào từng dùng vật ấy, sau tự tỉnh xét ôm lòng thẹn hối, y số bồi thường, thề chẳng phạm nữa, nay ta vì ông nói một ví dụ: Như có người nghèo trước mắc nhiều nợ, bỗng gặp của chìm vô số vàng ngọc, trả hết nợ xong vẫn còn dư lớn. Người tạo tội kia lại cũng như thế, đền vật nọ rồi, lại tạo tượng Phật, sẽ khỏi nạn khổ, mãi được an vui.

Bấy giờ Ngài đại Bồ Tát Di Lặc lại bạch hỏi Phật:

– Kính bạch Thế Tôn! Như Phật từng dạy “Ở trong pháp Phật mà phạm khí tội, chẳng gọi là sống.” (Chú thích: Khí tội là các loại tội của người xuất gia, Tăng có 4 loại, Ni có 8 loại) Nếu lại có người phạm tội đó rồi, phát tâm nhớ nghĩ công đức chư Phật và tạo hình – tượng, vậy thì đối trong giáo pháp của Phật được “sống” lại chăng? Lại trong đời này, hoặc đời thứ hai, thứ ba, thứ tư được chứng Pháp chăng?

Đức Phật bảo ngài Bồ Tát Di Lặc:

– Ví như có người thân bị trói cột, tay, chân và cổ, nếu được cởi trói thì sẽ như chim khỏi lưới, bay đi tự do, việc này thế nào thì người kia cũng vậy. Nếu phát lòng tin, ngẫm nghĩ về những công đức của Phật và tạo hình – tượng Phật, thì các nghiệp chướng đều được tiêu trừ, ở trong sinh tử mau được ra khỏi, không bị trở ngại. Di Lặc nên biết, có ba Thừa pháp làThanh Văn thừa, Bích Chi Phật thừa và Phật Đại thừa, người tạo hình – tượng Phật tùy nơi thừa nào, khởi nguyện ưa muốn, tức sẽ nơi thừa đó, được sự giải thoát. Nếu như chỉ vì cầu thành Phật đạo, không cầu báo khác, thì dầu chướng nặng vẫn được mau diệt, tuy tại sinh tử nhưng không nạn khổ, cho đến sẽ chứng Vô Thượng Bồ Đề, được cõi thanh tịnh; đủ các tướng tốt, được cảm thọ mạng lâu dài vô tận.
Bấy giờ trong hội, có những người chưa phát tâm Đại thừa, đều sinh mối nghi, nghĩ như thế này: “Đức Như Lai ta về thuở quá khứ có tạo tượng Phật hay là không tạo? Giá mà có tạo, sao cõi Ngài ở đầy những nhơ nhớp, chẳng được thanh tịnh?”

Vua Ba Tự Nặc nương oai thần Phật, liền từ chỗ ngồi, đứng dậy chấp tay quỳ thẳng bạch Phật:
– Kính bạch Đức Thế Tôn! Con thấy Đức Như Lai các căn tướng tốt đẹp cũng như dòng tộc đều là đệ nhất, lòng con quyết định không có chỗ nghi. Nhưng Đức Như Lai từng có một lần, cây Khư đà la đâm thủng chân Ngài. Lại có một lần Đề Bà Đạt Đa lăn đá văng mảnh, khiến chân Phật chảy máu. Trước đây có lúc Ngài bảo có bệnh, cho mời Kỳ Bà điều chế thuốc tốt. Lại có một lần từng nhức sau lưng. Ngài bảo Tôn giả Ma Ha Ca Diếp tụng “bảy pháp Giác phần” thì chỗ đau được trừ. Lại có một lần từng bị đau nhức, sai Ngài A Nan đến nhà Bà La Môn tìm xin sữa bò. Trước đây có lần tại thôn Ta La, ba tháng an cư chỉ ăn lúa của ngựa. Lại từng một lần khất thực chẳng được, bát không trở về.

Kính bạch Thế Tôn! Như Thế Tôn nói: “Nếu có người nào tạo hình – tượng Phật, thì bao nghiệp chướng đều bị trừ diệt, lìa những khổ não, không các tật bệnh”. Vậy Đức Thế Tôn trong những kiếp xưa từng có tạo tượng hay là không tạo. Nếu trong quá khứ Ngài có tạo tượng, thì nhân duyên nào, có những việc ấy?

Đức Phật bảo vua Ba Tư Nặc rằng:

– Lắng nghe! Lắng nghe và khéo nhớ nghĩ, Ta sẽ vì Đại vương phân biệt giải nói.
Này Đại vương, Ta về kiếp xưa vì cầu Bồ đề mà đã dùng những châu ngọc quý giá, gỗ thơm Chiên đàn và sơn vẽ để tạo hình -tượng Phật, nhiều hơn tất cả số chúng Trời người trong hội hiện nay. Do phước này nên dầu còn trong vòng lưu chuyển sinh tử mê hoặc, nhưng được thọ thân bền như kim cương, chẳng thể hư tổn.

Lại này Đại vương! Ta nhớ quá khứ cách vô lượng kiếp, còn trong sinh tử ta tạo tượng Phật, lúc đó ta còn tham lam, sân hận, si mê… vô lượng phiền não tương ưng với tâm, nhưng ta chưa từng trong khoảng một niệm, vì tội nghiệp mà bốn đại chẳng điều, hoặc là bị các quỷ thần dựa nhập, hay bị chút ít các chứng bệnh khổ, còn vật cần dùng thì không thứ nào mà chẳng đầy đủ, huống gì ngày nay ta đã chứng đạo Bồ đề, lại còn có việc “bất như ý” sao?

Đại vương! Nếu ta thuở xưa từng tạo tượng Phật, nay có nghiệp tàn để chịu báo đó, ta làm sao thành bậc “Vô úy thuyết” để rồi nói rằng “Tạo tượng quyết định có thể trừ hết các nghiệp xấu ác?”
Đại vương! Ta thuở quá khứ cấp giúp vô lượng món ăn thức uống, tiền tài châu báu, làm sao đời nay khất thực chẳng được, phải ăn lúa của ngựa? Thoảng như ngày nay, việc đó có thật, thì ta làm sao trong vô lượng kinh, nhiều cách khen ngợi thí Ba la mật, nói phước bố thí trọn không hư dối?

Đại vương! Ta là bậc nói lời chân thật, bậc không nói lời dối gạt. Nếu ta khi dối thì độ được ai?
Đại vương! Từ lâu ta đã dứt hết nghiệp ác, bỏ việc khó bỏ, làm sự khó làm, thân mạng được bỏ hàng trăm ngàn ức, đã tạo vô lượng hình – tượng chư Phật, hối cải vô lượng các tội nghiệp ác, há mắc những việc bị thương, bệnh khổ, ăn dùng lúa của ngựa, đói khát hay sao? Nếu từng được những quả báo thù thắng, nay lại lui mất, lấy đâu khuyến tu các phước lành kia?

Này Đại vương! Chư Phật Như Lai là thân thường hằng, là thân Pháp tánh, vì độ chúng sinh mà thị hiện việc trên, chẳng phải thật sự như vậy. Bị thương bàn chân, đau lưng, xin sữa, uống thuốc v.v… cho đến nhập Đại Niết bàn, để lại xá lợi, phân chia các nơi, xây tháp v.v… Đều là phương tiện khéo léo của Phật, khiến các chúng sinh trông thấy tướng như vậy.

Đại vương! Ta ở thế gian hiện ra những việc bệnh hoạn như trên, mục đích muốn cho chúng sinh biết rõ nghiệp báo chẳng mất, khiến họ biết sợ để dứt tội lỗi, tu các hạnh lành, để rồi sau đó, biết thân thường hằng, biết thân Pháp tánh, thọ mạng vô hạn, cõi nước thanh tịnh.

Đại vương! Chư Phật Như Lai không hề hư vọng, thuần là đại bi, trí tuệ khéo léo, cho nên có thể thị hiện đủ mọi cách thức như vậy.

Khi đó vua Ba Tư Nặc nghe lời này rồi, mừng vui khấp khởi, cùng với vô lượng trăm ngàn chúng sinh, đều phát đạo tâm Vô Thượng Bồ Đề.

Bấy giờ, Ngài đại Bồ Tát Di Lặc tiếp tục hỏi Phật:

– Kính bạch Thế Tôn! Có những người nữ ý chí nhỏ hẹp, mang nhiều ghen, giận, khinh bạc, xiểm dối, giận dai không bỏ, mang ơn chẳng báo đáp. Dẫu cầu Bồ đề, nhưng không mấy người giữ chí bền bỉ, thường muốn mê hoặc tất cả mọi người, lại cũng bị người lừa gạt trở lại.

Kính bạch Thế Tôn! Nếu người nữ này tạo hình – tượng Phật, những nghiệp như vậy được trừ diệt chăng? Được làm một người biết ơn, báo ơn chăng? Được đủ trí tuệ, đại từ bi chăng? Với sự sống chết hay chán lìa chăng? Trừ khi phát nguyện, ngoài ra có chịu thân nữ lại chăng? Có được như bà Cù Đàm Di và Phật mẫu là bà Ma Gia phu nhân chăng?

Đức Phật đáp lời Bồ Tát Di Lặc:

– Nếu người nữ nào hay tạo tượng Phật, thì hẳn không thọ lại thân phụ nữ. Giả như thọ thân, thì đó là bậc nữ lưu tôn quý đệ nhất hơn hết. So với những người nữ có năm thứ đức, những gì người nữ tạo tượng sẽ được, hơn cả những người nữ đó. Năm đức là gì?

Một là: Sinh nở con cái.

Hai là: Giòng dõi tôn quý.

Ba là: Bẩm tánh trinh lương.

Bốn là: Thể chất, tướng mạo đẹp đẽ cả hai.

Năm là: Dáng vẻ mỹ mãn.

Di Lặc! Tất cả người nữ có tám nhân duyên cho nên thường chịu thân nữ nhiều đời. Thế nào là tám?

Một là: Yêu dấu thân nữ.

Hai là: Ham đắm dục lạc của người phụ nữ.

Ba là: Miệng thường khen ngợi dung chất nữ nhân.

Bốn là: Lòng không ngay thẳng, che dấu việc làm sai trái.

Năm là: Chán nản chồng mình.

Sáu là: Cõi lòng nặng trĩu tơ tưởng đến người khác.

Bảy là: Biết người có ơn nhưng mình lại bội nghịch.

Tám là: Trang điểm, phục sức tà ngụy muốn người khác sinh mê hoặc, ái luyến.

Nếu hay dứt hẳn tám điều như thế, tạo hình – tượng Phật, mãi đến khi thành Phật, thường làm nam giới. Chịu thân nữ nữa là điều vô lý.

Di Lặc! Có bốn thứ nhân duyên, khiến những người nam chịu thân nữ nhân. Thế nào là bốn?
Một là: Giả tiếng người nữ khinh cười gọi Phật, chư vị Bồ Tát, các vị Thánh nhân.

Hai là: Với người giữ giới, đem lòng chê bai, nói rằng họ phạm giới.

Ba là: Ưa đi nịnh hót, dối gạt người khác.

Bốn là: Thấy ai hơn mình tâm sinh ganh ghét.

Nếu đàn ông nào làm bốn việc trên, sau khi chết rồi ắt chịu thân nữ, lại phải trải qua vô lượng nỗi khổ trong các ác đạo. Nếu phát lòng tin sâu dày sám hối việc làm lúc trước và tạo tượng Phật, các tội như trên đều bị tiêu diệt, rốt ráo chẳng còn chịu thân người nữ.

Di Lặc! Có bốn thứ nhân duyên, khiến những người nam chịu thân đồng tính. Những gì là bốn?
Một là: Tàn hại thân hình người và súc sinh.

Hai là: Đối với Sa môn gìn giữ tịnh giới mà nổi sân hận, chế giễu, chê bai.

Ba là: Đa tình, tham dục, cố tâm phạm giới.

Bốn là: Gần người phạm giới, lại khuyên người phạm giới.

Nếu người nam nào trước làm điều này, sau khởi lòng tin tạo hình – tượng Phật, mãi đến thành Phật chẳng chịu báo đó, thường làm đàn ông các căn đầy đủ.

Di Lặc! Có bốn thứ nghiệp hay khiến đàn ông chịu thân song tính luyến ái, thấp hèn nhất trong tất cả mọi người. Những gì là bốn?

Một là: Loạn dâm nhơ nhớp ở chốn tôn nghiêm.

Hai là: Với thân người nam mà đắm nhiễm bậy.

Ba là: Chính tự mình nơi thân mình làm việc dâm dục.

Bốn là: Mua bán nữ sắc cho những người khác.

Nếu chúng sinh nào làm các việc ấy, rất tự trách lỗi, hối hận chỗ phạm trước, khởi lòng tịnh tín tạo tượng Phật, mãi đến khi thành Phật, chẳng chịu thân ấy.

Di Lặc! Lại có bốn duyên khiến những người nam, tâm họ thường sinh tâm ái dục của nữ, thích với đàn ông làm chuyện dâm ái. Thế nào là bốn?

Một là: Hoặc ngờ, hoặc giỡn báng bổ người khác.

Hai là: Ưa lối phục sức trang điểm của nữ.

Ba là: Làm chuyện dâm dục, nhơ nhớp với người nữ trong họ hàng.

Bốn là: Thật không có đức tốt, lại vọng nhận để người khác lễ lạy.

Do nhân duyên này khiến những đàn ông khởi những phiền não khác biệt như thế. Nếu như ăn năn những lỗi đã phạm, chẳng tạo lỗi mới, tâm sinh tin ưa tạo hình – tượng Phật, tội kia đã diệt, tâm nọ cũng dứt.

Di Lặc! Có năm thứ bỏn xẻn hay phá chúng sinh. Thế nào là năm?

Một là: Bỏn xẻn tiếc thôn ấp, chỗ ở gần gũi mình (Chú thích: Nghĩa là chỉ muốn riêng ta ở chỗ này, không dung chứa người khác). Do đây mà sinh ở chỗ đồng không mông quạnh.

Hai là: Bỏn xẻn tiếc nhà cửa, hiên mái để ở (Chú thích: Nghĩa là chỉ ta vào ra nhà này, không cho người khác ra vào), sẽ làm sâu cổ, thường ở những chỗ phân tiểu hôi nhơ.

Ba là: Bỏn xẻn tiếc sắc đẹp, dung mạo (Chú thích: Nghĩa là chỉ muốn một mình ta hưởng sự đẹp đẽ, không muốn người khác hưởng), sẽ cảm hình xấu chẳng như ý muốn.

Bốn là: Bỏn xẻn tiếc của cải (Chú thích: Nghĩa là chỉ muốn ta có của cải, không muốn người khác có), sẽ bị nghèo nàn, áo cơm thiếu hụt.

Năm là: Xẻn tiếc giáo pháp đã biết (Chú thích: Nghĩa là chỉ riêng ta hay biết nghĩa lý sâu xa ấy, không cho người khác hay biết), sẽ mắc những quả báo súc sinh, đần độn.

Nếu như ăn năn nghiệp trước của mình và tạo tượng Phật, thì sẽ lìa tâm bỏn xẻn trước đó, không thọ những quả báo như đã nói trên.

Di Lặc! Lại có năm duyên làm cho chúng sinh, sinh ở vùng man di, ở chốn biên cương, hoặc sinh thời kỳ không có Phật Pháp. Thế nào là năm?

Một là: Chẳng sinh lòng tin trong sạch đối với ruộng phước Tam Bảo.

Hai là: Trái với lẽ thật, lệch với chánh lý, mà vọng đi giáo giới ( Chú thích: dạy giới luật, đây là phận sự của người xuất gia)

Ba là: Chẳng đúng giáo lý chân thật mà lại dạy trao cho người.

Bốn là: Phá hòa hợp Tăng khiến chia rẽ thành hai bộ.

Năm là: Cho đến ít nhất phá hai Tỳ kheo khiến chẳng hòa hợp.

Dứt hẳn nghiệp trên và tạo tượng Phật, sẽ thường gặp Phật, thường nghe pháp yếu.

Di Lặc! Chúng sinh lại có năm thứ nhân duyên thường bị nhiều người chán ghét xua đuổi, cả đến người thân cũng không ưa gặp. Thế nào là năm?

Một là: Nói lời hai lưỡi (Chú thích :tức là đến người này nói xấu người kia, đến người kia nói xấu người này)

Hai là: Nói lời hung ác.

Ba là: Nhiều sự tranh chấp.

Bốn là: Nhiều sự giận dỗi.

Năm là: Giỏi nói bóng bẩy nhằm chê bai người.

Sau nếu phát tâm tạo hình – tượng Phật, ăn năn nghiệp cũ thề không tái phạm, tội của người ấy đều được trừ diệt, được cả mọi người mến kính gần gũi. Tại sao vậy? Vì chư Phật có vô lượng vô biên phước đức thù thắng, vô lượng vô biên trí tuệ rộng lớn, vô lượng vô biên Tam muội giải thoát, đủ những pháp tánh công đức hiếm có.

Chư thiện nam tử! Giả sử có người đem một tam thiên đại thiên thế giới (Chú thích : tương đương 1 tỉ hệ mặt trời) nghiền thành bụi nhỏ, lại lấy số bụi ấy, mỗi mỗi hạt bụi lại nghiền ra nhiều hạt cực nhỏ, số lượng bằng với số bụi trong một đại thiên thế giới; tổng những số hạt bụi được nghiền ấy nhiều biết chừng nào.

Giả như có người lấy số hạt bụi nghiền ấy, dùng sức thần thông đi về phía Đông. Người ấy đi mãi lâu đến số kiếp nhiều như số bụi đã nghiền. Trong mỗi sát na, người ấy vượt qua số thế giới nhiều như số bụi của một cõi đại thiên đã được nghiền nhỏ. Qua hết tổng số thế giới ấy, bèn bỏ xuống một hạt bụi.

Người ấy lại tiếp tục đi về phía Đông hơn số cõi đó, bỏ xuống hạt bụi thứ hai.

Đến hạt thứ ba lại hơn lần trước, lần lượt như thế, cứ gấp bội lên, cho đến khi bỏ xuống hết sạch số bụi đã nghiền.

Phương Đông như thế, phương Nam, Tây, Bắc lại cũng như vậy. Những chỗ bốn phương người nọ đã đi qua, đem tất cả thế giới trong đó nghiền thành bụi hết.

Những hạt bụi này tất cả chúng sinh cùng nhau tính lường còn có thể biết, còn những công đức trong từng sợi lông nơi thân Như Lai, chẳng thể biết được. Tại sao vậy?

Những công đức mà chư Phật đã có, đều vô hạn lượng chẳng thể nghĩ bàn.

Các thiện nam tử! Giả sử số người nhiều như bụi nhỏ vừa được nêu trên trí tuệ bằng với Xá Lợi Phất, bao nhiêu trí tuệ của những người đó, chẳng bằng một niệm trí của Như Lai
Ý kiến của bạn

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. Nguonsang.com xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ tên *
Email *
Nội dung
Mã ngẫu nhiên *
captcha
Copyright: nguonsang.com 2011 Email: [email protected]/ [email protected] YM: nguonsang_com
vé máy bay giá rẻ